Được tạo bởi Blogger.

Lưu trữ Blog

Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012


Đình Tân Trào.


Những di tích chính ở Tân Trào gồm đình Tân Trào, cây đa Tân Trào, lán Nà Lừa và Hang Bòng. Bên cạnh các địa danh nổi bật này, nếu thích bạn có thể rong ruổi ở hàng loạt di tích và du lịch khác như: bản Khuổi Kịch, đình Thanh La, Vực Thia, làng Tân Lập, đèo Chắn, Đồng Man - Lũng Tẩu, hang Bòng, hầm Chính phủ và bảo tàng Tân Trào...


Ngoài các địa danh không thể bỏ qua này, nếu lưu lại Tuyên Quang dài ngày hay có thời gian, bạn có thể tranh thủ tạt vào phường rối Thẩm Lộc tìm hiểu về nghệ thuật múa rối que hay ghé thành cổ Tuyên Quang, điểm thương nghiệp phát triển thời Lý, cũng là chứng nhân của nhiều sự kiện lịch sử quan trọng tại vùng quê cách mạng.


Thác Mơ hoang sơ và thơ mộng.


Lưu ý mang đầy đủ giấy tờ khi di chuyển bằng phương tiện cá nhân. Tuân thủ luật an toàn đường bộ. Mang bao tay, khẩu trang, kính mát để an toàn khi vận hành. Trang bị điện thoại có chức năng google map để tiện di chuyển.


Thuận tiện nhất cho việc tham quan là thuê phòng ở các khách sạn, nhà nghỉ trên đường số 2 (tuyến đường chính của thành phố Tuyên Quang). Nếu túi tiền chỉ ở mức tương đối, bạn có thể tham khảo thêm một số cái tên được dân du lịch bụi đánh giá “dịch vụ tạm ổn” là Kim Long, Mai Sơn, Kim Thoa, Tân Trào… Lưu ý nếu xác định qua đêm ở khách sạn, nhà nghỉ nên gọi điện thoại đặt phòng trước khi đến.


Các danh thắng tại Tuyên Quang thường khoác lên mình vẻ đẹp mới vào từng mùa nên bạn có thể sắp xếp thời gian đến đây vào bất cứ lúc nào miễn nó tương thích với tuỳ thuộc vào loại hình dịch vụ du lịch bạn chọn. Ví dụ nếu muốn khám phá thác Mơ, khu du lịch sinh thái Na Hang thì không nên đến vào mùa mưa (khó di chuyển, nước đục). Còn nếu đơn giản là nghỉ dưỡng ở suối khoáng Mỹ Lâm, thăm khu di tích lịch sử Tân Trào thì bạn có thể đến vào thời điểm bất kỳ.


Bánh cuốn cà cuống gần rạp tháng 8; ún chấm hà vụ gần cổng trường chuyên; phố ẩm thực đường Chiến Thắng Sông Lô; ăn sáng thì ra "cổng lấp ", ăn đêm ở "bờ hồ và Phan Thiết"; quán cá Sông Lô; kem 81; quán Đầu Bò, Hưng Thành; quán Tràng An; phở bò Cồ Kháng; bánh bao chiên gần Á Châu; cà phê Trung Nguyên, cà phê Linh Dương…

Xem bài viết đầy đủ


Hà Giang, hai tiếng thân thương ấy đã quen thuộc với tôi từ lâu qua những bức ảnh ruộng lúa bậc thang, những người dân bản với nụ cười tỏa nắng. Nhưng vì công việc như lũ cuốn đi hối hả, tôi cứ lần lữa chưa tới. Chỉ đến khi đọc được ở đâu đó câu trích dẫn: “Nếu bạn cứ viện hết lý do nọ đến lý do kia để từ chối đi du lịch, nghĩa là bạn hoàn toàn không muốn đi”, tôi mới quyết tâm lên đường, về xứ sở của hoa tam giác mạch đúng mùa hoa đua nở. 


Đoàn chúng tôi khởi hành lúc 3 giờ sáng trên xe máy, khi Hà Nội còn say giấc nồng. Tiếng gió trong đêm báo hiệu trước một chuyến đi đầy cảm xúc, với tâm trạng háo hức của những kẻ chẳng biết gì đón đợi mình phía trước. 


Mất khoảng 8 tiếng chạy xe, chúng tôi tới với thành phố Hà Giang. Lạ một nỗi, sao đã đến Hà Giang rồi mà vẫn chưa thấy dốc, chưa thấy đèo… Chúng tôi cứ thong dong mà đi, nhưng phải đến con đường lên Quản Bạ, mới thấy thế nào là đường núi Đông Bắc. 


Mỗi một đường cua lại cong veo, dốc đứng, khiến nhiều tay lái phải run rẩy. Hãi nhất là khi đang đến khúc cua, một bên là vực sâu mà đột nhiên trên đỉnh dốc lại xuất hiện một chiếc ô tô, “hung thần trên đường” phóng tới, vượt qua được rồi mới dám thở phào nhẹ nhõm. 


Hiểm trở là vậy nhưng cảnh quan Hà Giang cũng biết chiều lòng người, khiến ai ngắm cũng náo nức trong lòng. Mỗi khi vượt qua một con dốc, chúng tôi lại thấy mở ra trước mắt cảnh núi, rừng bao la, trùng điệp. 


Những rặng núi xanh dốc đứng bao vây và nhìn xuống mép vực sâu hoắm là những thửa ruộng bậc thang xếp lớp, mảng khối chỗ xanh, chỗ vàng, nơi úa tàn rơm rạ, chẳng khác nào một bức tranh. Tiếc là chúng tôi lên vào tháng 10, nghĩa là đã qua mất mùa lúa chín vàng, nhưng chỉ thế này cũng đã đủ khiến cảm xúc dâng trào. 


Quản Bạ, núi đôi Cô Tiên là cái mốc đầu tiên khiến ai nấy phải dừng lại: “Ô, a”. Từ trên mép núi cao ngất nhìn xuống là những thửa ruộng xinh xắn, xen lẫn xóm làng thanh bình, với dãy núi đôi xanh miên man như một giấc mơ có thật. Gió mát trên đỉnh đèo thổi về, làm vơi đi cái mệt nhọc của kẻ cầm lái và cái lo lắng, sợ hãi của người ngồi sau. 


Nhưng chúng tôi chẳng ngờ được những gì xảy ra phía trước. Chỉ dừng lại ở một góc cua đổ xăng, chúng tôi bị lạc nhau, đoàn tách làm hai, cố gắng phóng về nhà nghỉ đã đặt trước ở thị trấn Yên Minh. Hãi hùng nhất là trời trở tối rất nhanh, mới có 5 giờ 30 chiều mà đã nhá nhem, khó thấy mặt người. 


Ngày thứ hai ở Hà Giang vẫn là một ngày đẹp trời, với nắng vàng như rót mật trải trên cao nguyên xanh rì. Qua một đêm nghỉ ngơi, chúng tôi đã phục hồi sức khỏe và cả nhiệt huyết để tiếp tục hăm hở trên những chặng đường. Điểm đến tiếp theo là Lũng Cú, cột cờ ở cực Bắc của tổ quốc, nơi mà chỉ cái tên đã khiến lòng người tấu lên khúc reo ca hoan hỉ. 


Đường đến Lũng Cú khá đẹp, giữa đường, chúng tôi ngỡ ngàng trước rất nhiều núi cao, đèo quanh co lên địa đầu đất nước, lại thỏa nguyện trước đồi hoa tam giác mạch ngất ngây sắc hồng phớt. Hoa tam giác mạch nhỏ xinh, được trồng từng dãy, người dân ở đây thường dùng để làm món bánh mỳ tam giác mạch, tiếc là chúng tôi chưa có cơ hội nếm thử miếng bánh độc đáo này. 



Dọc theo những chái nhà, những đồng tam giác mạch, chúng tôi còn được ngắm những em bé dân tộc xinh xắn, ánh mắt hấp háy, bạn nào cũng thích ăn kẹo và cười rất tươi khi chúng tôi giơ máy ảnh. Trẻ em ở đây rất ngoan, có bé 4, 5 tuổi đã địu em sau lưng. Những đứa trẻ sau này khi chúng tôi gặp trên Lũng Cú không được ngoan bằng, thường ùa ra luôn miệng đòi tiền, âu cũng không phải vì chúng mà vì người miền xuôi đã đưa tiền, làm bọn trẻ thành thói quen xấu. 





Bon bon trên đường tìm ra km 442, cột mốc cuối cùng ở cực Bắc nước ta, chúng tôi chợt thấy con đường khép dần lại, chỉ còn một lối đi nhỏ xíu chỉ đủ một chiếc xe đi qua, một bên là vách đá lởm chởm, bên kia là vực sâu hoắm. Tưởng rằng đó là con đường đi, đám con trai cho xe vượt lên phía trước, qua những chỗ đá sắc nhọn và những vạt núi sạt mất một bên, khiến ai nấy khiếp vía. 



Đến nửa đường, chúng tôi đành đầu hàng, vì con đường này quá đáng sợ, ngàn cân treo sợi tóc nên dừng lại, xuống xe. Nhưng trước khi quay lại, vẫn còn kịp ngắm nốt quang cảnh có một không hai dưới chân mình, lại gào vang để nghe tiếng núi đồi đáp lại từ phía chân trời, một cảm giác khó lòng có lại lần hai: vừa sợ hãi, vừa phấn khích. 


Nhưng chúng tôi chẳng ngờ được những gì xảy ra phía trước. Chỉ dừng lại ở một góc cua đổ xăng, chúng tôi bị lạc nhau, đoàn tách làm hai, cố gắng phóng về nhà nghỉ đã đặt trước ở thị trấn Yên Minh. Hãi hùng nhất là trời trở tối rất nhanh, mới có 5 giờ 30 chiều mà đã nhá nhem, khó thấy mặt người. 


Thoát khỏi con đường rùng rợn kia, chúng tôi leo lên cột cờ Lũng Cú, ngắm giang sơn gấm vóc từ góc độ này, dưới lá cờ đỏ phần phật bay, mới thấy Việt Nam đẹp, tú lệ đến ngẩn ngơ, chẳng bõ công chúng tôi nhịn cả bữa trưa một mạch tới đây. Gió trên đỉnh Lũng Cú lồng lộng, lòng người cũng thêm háo hức, cũng chính niềm háo hức bất tận với những chuyến đi ấy đã tiếp sức cho những tâm hồn trẻ, để ngày mai trên con đường, chúng tôi tiếp tục đối mặt với những thử thách ở xứ sở tam giác mạch. 





Hiền Trang (Xzone/TTTĐ)

Xem bài viết đầy đủ


TPO - Chùa Keo nằm ở xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Đây là một trong những ngôi chùa cổ ở Việt Nam được bảo tồn hầu như còn nguyên vẹn kiến trúc 400 năm tuổi.


Tương truyền, nguyên thủy chùa do Thiền sư Dương Không Lộ xây dựng ở ven sông Hồng từ năm 1061 dưới thời Lý Thánh Tông, tại hương Giao Thủy, phủ Hà Thanh (nay thuộc huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định).




Ban đầu, chùa có tên là Nghiêm Quang tự, đến năm 1167 mới đổi thành Thần Quang tự. Vì Giao Thủy có tên Nôm là Keo, nên ngôi chùa này cũng được gọi là chùa Keo.


Sau gần 500 năm tồn tại, năm 1611, nước sông Hồng lên to, làm ngập làng Giao Thủy, nơi có chùa. Một bộ phận dân cư dời đi nơi khác, lập thành làng Hành Thiện, xây dựng nên ngôi chùa Keo mới, thường được gọi là chùa Keo Dưới (Keo Hạ) hay chùa Keo Hành Thiện (nay ở xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, Nam Định).


Một bộ phận dân cư dời sang tả ngạn sông Hồng, lập làng Dũng Nhuệ trên đất Thái Bình, về sau cũng dựng lên một ngôi chùa, gọi là chùa Keo Trên (Keo Thượng).


Ban đầu, chùa được xây dựng tạm trên nền đất của làng. Năm Hoằng Định thứ 13 (1612), chùa được tu sửa hoàn chỉnh và có dáng dấp như ngày nay. Trong 400 năm tiếp theo, chùa nhiều lần được tu bổ lớn như vào các năm Cảnh Trị thứ 9 (1671), Chính Hoà thứ 25 (1704), Thành Thái thứ 7 (1896) và đặc biệt từ năm 1962 chùa Keo đã được nhà nước công nhận là tích lịch sử văn hoá, nên đã được tôn tạo nhiều lần.





Được khởi công xây dựng trước, kiến trúc chùa Keo Hành Thiện có ảnh hưởng rất lớn đến chùa Keo ở Thái Bình. Phía trước chùa có hồ bán nguyệt nước trong xanh, soi bóng tháp chuông mái cong uy nghiêm, thơ mộng.


Được khởi công xây dựng trước, kiến trúc chùa Keo Hành Thiện có ảnh hưởng rất lớn đến chùa Keo ở Thái Bình. Phía trước chùa có hồ bán nguyệt nước trong xanh, soi bóng tháp chuông mái cong uy nghiêm, thơ mộng.




Tuy không có gác chuông chồng diêm 3 tầng 12 mái đồ sộ như chùa Keo Thái Bình, gác chuông chùa Keo Hành Thiện cũng là một sự kết hợp hài hòa của kiến trúc tam quan nội 5 gian, làm theo kiểu chồng diêm, cao 7m50.


Dáng vẻ thanh thoát với mái cong, bờ cánh kẻ bảy uốn lượn. Phía dưới là 8 đại trụ và 16 cột quân được đặt trên đá tảng chạm khắc hoa văn cánh hoa sen nở.



Ngoài vẻ đẹp về kiến trúc, trong chùa còn lưu giữ, bảo tồn những di vật cổ có giá trị của thế kỷ 17 thời Hậu Lê. Đó là những án thư, sập thờ, tượng pháp nhiều chuông khánh, văn bia cổ, hoàng văn phi đối và sách chữ Hán nói về chùa Keo.


Ngoài vẻ đẹp về kiến trúc, trong chùa còn lưu giữ, bảo tồn những di vật cổ có giá trị của thế kỷ 17 thời Hậu Lê. Đó là những án thư, sập thờ, tượng pháp nhiều chuông khánh, văn bia cổ, hoàng văn phi đối và sách chữ Hán nói về chùa Keo.


Sau chùa là đền Thánh thờ Đức Thánh Tổ Đại pháp thiền sư Không Lộ, người chữa khỏi bệnh cho vua Lý Nhân Tông.

Xem bài viết đầy đủ